GIỚI THIỆU CHUNG

 

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

 

Huyện Châu Thành nằm trên tuyến biên giới phía tây nam của tỉnh Tây Ninh và của cả nước, có chung đường biên giới với tỉnh Svây Riêng (Campuchia) dài 48 km, có cửa khẩu Phước Tân và nhiều đường tiểu ngạch thông thương  giữa hai nước. 

Đặc điểm biên giới đất liền đất, rừng liền rừng, sông có đoạn từ Vàm Trảng Trâu đến Bến Ra được coi là đoạn biên giới phân cách. 

Là một trong 5 huyện biên giới có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, đặc biệt là về quốc phòng, an ninh của tỉnh. Huyện Châu Thành phía đông giáp Thị xã Tây Ninh; phía nam giáp hai huyện Bến Cầu và Hòa Thành; phía Bắc giáp huyện Tân Biên. Có diện tích tự nhiên 571, 25km, dân số: 141.875 người. Mật độ dân số 248,36 người/km2

 Địa hình vừa có đồng bằng vừa có rừng. Phía Tây-Tây Bắc rừng xen kẽ trảng trống và đồng ruộng. Phía Nam-Tây Nam chủ yếu là rừng (rừng thưa, rừng chồi). Sông Vàm Cỏ Đông chảy dọc huyện chia diện tích huyện thành hai vùng xấp xỉ nhau. Rạch Sóc Om và Rạch Vàm Dình là 2 thượng nguồn của sông Vàm Cò Đông.

Nguồn nước ngọt quanh năm không cạn rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên sông Vàm Cỏ Đông mang đặc tính bán nhật triều nên khi triều dâng cao nhất thì vụ lúa mùa có thể bị thiệt hại ở những vùng trũng sâu, ven sông Vàm Cỏ Đông.

Hiện quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp (bao gồm diện tích đất phát triển CCN-TTCN) trên địa bàn huyện đến năm 2020 khoảng 270ha.

Tài nguyên khoáng sản của huyện có các khoáng sản chủ yếu như sản xuất vật liệu xây dựng cát, sỏi; sét gạch ngói (Trí Bình); đá Letarit (Lò Ho); than bùn phân bố rãi dọc theo sông Vàm Cỏ Đông ở Trí Bình, Thanh Hàm (xã An Bình), Ninh Điền, là nguyên liệu cho sản xuất phân bón với điều kiện khai thác khá thuận lợi; cao lanh (Thái Bình). Ngoài ra, xã Ninh Điền có 01 mỏ nước khoáng đã được thăm dò chi tiết và được hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà nước cấp giấy phép khai thác.

 

Kinh tế -Xã hội và Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp

 

Kinh tế huyện Châu Thành giai đoạn từ năm 2010 đến nay có mức tăng trưởng khá. Tổng giá trị sản xuất các lĩnh vực chủ yếu năm 2014 ước thực hiện 8.666 tỷ đồng, tăng 9,56% SCK. Trong đó: Nông-lâm-thủy sản: ƯTH 4.342 tỷ đồng, tăng 5,5% SCK; Công nghiệp-xây dựng: ƯTH 3.329 tỷ đồng, tăng 14,04% SCK; Thương mại-dịch vụ: ƯTH 995 tỷ đồng, tăng 13,69% SCK.

Kinh tế có sự chuyển biến khá rõ nét, theo hướng phát triển bền vững. Cơ cấu Nông nghiệp, Công nghiệp-xây dựng, Thương mại-dịch vụ ƯTH năm 2014: 50,11%-38,41%-11,48%.

Về công nghiệp-TTCN, toàn huyện có khoảng 856 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thu hút trên 7.000 lao động.

Hiện tại ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, thực phẩm và ngành dệt may-da giày chính là những ngành công nghiệp thể hiện thế mạnh của huyện.